Best magento themes 2013 designed by magentothemes.tv, 9 vietnam visa, vietnam visa world vietnam visa tours, vietnam visa home, vietnam visa box, vietnam visa trip, magento themes free, magento themes go, bug themes, magento templates, magento templates, magento themes, magento templates, bao ve, bao ve, dich vu bao ve, thoi trang, thoi trang, gia vang, web design blog tin tuc 24h, suc khoe, tin tuc moi, tin moi, tin moi, 2 phu nu, giai tri thoi trang, thiet ke website, lam dep, suc khoe, du lich tin cong nghe, magento themes, prestashop themes, themetalent.com,


23:54 ICT Thứ tư, 27/08/2014

Hoạt Động Nhà Trường

Dạy Học Tích Cực

Ngoại Khóa

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 1


Hôm nayHôm nay : 34

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1425

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 176342

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ MỚI CỦA CƯƠNG LĨNH, BÁO CÁO CHÍNH TRỊ, CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 10 NĂM 2011- 2020 VÀ ĐIỀU LỆ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Thứ năm - 01/09/2011 10:07
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ MỚI CỦA CƯƠNG LĨNH, BÁO CÁO CHÍNH TRỊ, CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 10 NĂM 2011- 2020 VÀ ĐIỀU LỆ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

•Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) là văn bản trình bày tóm tắt mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp của đảng này.

•Các cương lĩnh 3/2; tháng 10/1930; chính cương Đảng lao động Việt nam tháng 2/1951; Cương lĩnh 1991, cương lĩnh 2011:

•Cương lĩnh 1991:

•Là văn kiện cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991). Cương lĩnh có 4 phần.

• Phần I: quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm của Đảng (1930 -1991);

• Phần II: quá độ lên chủ nghĩa xã hội;

• Phần III: những định hướng và chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại;

• Phần IV: hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. 

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA CƯƠNG LĨNH 2011

•Cương lĩnh 2011 về cơ bản giữ lại những nội dung quan trọng của Cương lĩnh 1991 mà cho đến nay qua sự kiểm nghiệm của thời gian chúng ta thấy vẫn còn nguyên giá trị. Chúng ta bổ sung và phát triển thêm nhiều nội dung mới mà những nội dung ấy phải đảm bảo được nguyên tắc:

• Một là, đây là những nội dung cho đến nay đã rõ, đã thống nhất, đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn, đã được thể hiện, được khẳng định trong nghị quyết các Đại hội, nghị quyết các Hội nghị Trung ương;

Hai là, không đưa vào Cương lĩnh 2011 những nội dung chưa rõ, chưa được nhận thức, chưa được khẳng định tính đúng đắn trong thực tiễn.

•Cương lĩnh 2011 cơ bản giữ kết cấu tổng thể của Cương lĩnh 1991. Có 4 phần lớn:

• Phần thứ nhất, quá trình cách mạng Việt Nam và những bài học kinh nghiệm;

• Phần thứ hai, thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta;

•Phần thứ ba, những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại;

•Phần thứ tư, về hệ thống chính trị và sự lãnh đạo của Đảng. Đây là 4 phần được kết cấu rất chặt chẽ; phần đầu là chuẩn bị và mở ra cho phần tiếp theo; phần tiếp theo là cụ thể hóa những nội dung của phần trước đó.

•Cương lĩnh 2011, trên cơ sở kế thừa những nội dung của Cương lĩnh 1991 có khái quát hơn, bổ sung thêm quá trình thực tiễn của 20 năm đổi mới và nhấn mạnh vào 3 thắng lợi vĩ đại:

Một là, Cách mạng Tháng Tám;

Hai là, những cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, bảo vệ độc lập chủ quyền và làm tròn nghĩa vụ quốc tế;

Ba là, thắng lợi của công cuộc đổi mới.

 Cách trình bày về quá trình cách mạng Việt Nam trong Cương lĩnh 2011 so với Cương lĩnh 1991 khái quát hơn, đánh giá, cân nhắc chính xác hơn, có tính đến sự tinh tế trong quan hệ quốc tế.

•Nhấn mạnh 3 thành tựu hết sức quan trọng, ba sự thay đổi có tính cách mạng:

Thành tựu thứ nhất là sự thay đổi vận mệnh đất nước, dân tộc. Chính nhờ những thắng lợi vĩ đại nói trên mà vận mệnh đất nước thay đổi, từ một xứ nô lệ của thực dân Pháp trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, độc lập, phát triển theo con đường XHCN.

• Thành tựu thứ hai là sự thay đổi thân phận con người. Chính nhờ những thắng lợi vĩ đại đó mà con người Việt Nam ta từ thân phận của những người nô lệ đã trở thành những người làm chủ đất nước và xã hội.

Thành tựu thứ ba có ý nghĩa lịch sử là sự thay đổi cục diện và vị thế của đất nước.

•Kế thừa 5 bài học trong Cương lĩnh 1991, nhưng bổ sung, hoàn thiện, làm sâu sắc hơn:

Một là, bổ sung và làm sâu sắc hơn bài học về sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Cương lĩnh 1991 khẳng định, vấn đề quan hệ với dân, lấy dân làm gốc, đến Cương lĩnh 2011 đã chỉ ra nguy cơ nếu Đảng xa rời dân. Cương lĩnh 2011 có một đoạn bổ sung: quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ XHCN và của Đảng.

Hai là, Cương lĩnh 2011 nhấn mạnh sự kiên định ý chí độc lập, tự chủ gắn liền với tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực.

Ba là, Cương lĩnh 2011, thay hai từ “bảo đảm” bằng từ “quyết định” nhấn mạnh sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

•Sau khi thảo luận, tranh luận, Bộ Chính trị đã trình Trung ương, trình Đại hội XI thì vẫn đạt sự thống nhất cao là cần thiết phải dùng khái niệm “thời kỳ quá độ”. Sự cần thiết này căn cứ vào những cơ sở nhận thức lý luận và căn cứ vào tổng kết thực tiễn. Về mặt nhận thức lý luận thì từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác tất yếu phải có một giai đoạn chuyển tiếp; từ chủ nghĩa tư bản sang CNXH tất yếu phải có một giai đoạn dài, chuyển tiếp rất lâu dài.

•Trong phần thời kỳ quá độ có 2 nội dung lớn:

•- Nội dung thứ nhất, bối cảnh quốc tế trong thời đại ngày nay. So với Cương lĩnh 1991, phần trình bày về bối cảnh quốc tế trong Cương lĩnh 2011 đầy đủ hơn, cập nhập hơn, phong phú hơn trong đó có 6 nhóm vấn đề được đề cập trong Cương lĩnh

Nhóm vấn đề thứ nhất, đặc điểm và xu thế chung của thời đại ngày nay, trong đó có nói đến cách mạng khoa học công nghệ; đến kinh tế tri thức; đến toàn cầu hóa, xem đó như là 3 nhân tố mà trong những thập niên tới sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống của các quốc gia, đời sống nhân loại.

•Nói đến các mâu thuẫn cơ bản của thời đại. Bây giờ dù được biểu hiện dưới các hình thức mới, các phương thức mới, nhưng về cơ bản các mâu thuẫn thời đại vẫn đang tồn tại.

•Nói đến xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ thì vẫn là xu thế lớn. Nhưng bên cạnh xu hướng chính ấy vẫn luôn diễn ra, luôn tiềm ẩn sự cạnh tranh, xung đột cục bộ, nhất là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về nguyên liệu, về địa bàn chiến lược.

•Có dự báo về sự năng động và các nguy cơ mất ổn định tiềm ẩn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Nhóm vấn đề thứ hai là nhận định và đánh giá về CNXH trước đây và hiện nay, trong đó có đánh giá thành tựu và đóng góp to lớn của Liên Xô và hệ thống CNXH trước đây; đánh giá những tổn thất thực tế sau khi mô hình CNXH ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ; sự phục hồi đầy khó khăn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Nhóm vấn đề thứ 3 là đưa ra nhận định, đánh giá về chủ nghĩa tư bản hiện đại. Chúng ta thừa nhận tiềm năng còn có của chủ nghĩa tư bản và cũng chỉ ra được bản chất và mâu thuẫn không thể khắc phục được của chủ nghĩa tư bản hiện đại, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất hiện đại với chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Chính bản thân các nước tư bản nhận thức rất sâu sắc về vấn đề này

•Cương lĩnh 2011 nhận định, sự tác động của mâu thuẫn cơ bản và phong trào của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, nhân loại tiến bộ sẽ quyết định vận mệnh cuối cùng của chủ nghĩa tư bản. Đây là nhận định khách quan, không phải là suy nghĩ chủ quan của chúng ta

Nhóm vấn đề thứ tư là đánh giá tình hình các nước đang phát triển và kém phát triển trong bối cảnh thế giới sôi động.

Nhóm vấn đề thứ năm là những vấn đề toàn cầu đang và ngày càng tác động đến vận mệnh của loài người.

• Nhóm vấn đề thứ sáu là nhận định về đặc điểm lớn nhất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

•Cương lĩnh 2011 đưa ra nhận thức về đặc điểm lớn nhất trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau, cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

•Toàn cầu hóa, thế giới phẳng, lợi ích của các nước vượt ra ngoài phạm vi các quốc gia, nhu cầu phải hợp tác trên phạm vi quốc tế ngày càng trở nên phổ biến.

Nội dung thứ hai, những đặc trưng của mô hình CNXH mà Đảng và nhân dân ta phấn đấu xây dựng, mục tiêu và những phương hướng cơ bản. Cương lĩnh 2011 đã kế thừa và tiếp tục hoàn thiện về mô hình CNXH ở nước ta.

•Cương lĩnh 1991 có phác họa sáu đặc trưng cơ bản của mô hình CNXH mà chúng ta xây dựng.

•Cương lĩnh 2011 bổ sung, hoàn thiện sáu đặc trưng được trình bày trong Cương lĩnh 1991 và bổ sung thêm hai đặc trưng mới.

Trước hết, Cương lĩnh 2011 mở rộng biên độ “nhân dân làm chủ”. Trong Cương lĩnh 1991 nói là “do nhân dân lao động làm chủ”. Cương lĩnh 2011 nói là “do nhân dân làm chủ”, bỏ 2 từ “lao động”. Ý tứ là, đến khi chúng ta hoàn thành xây dựng CNXH thì ranh giới giữa nhân dân lao động và không lao động là không còn ý nghĩa nữa và giữa lao động chân tay và lao động trí óc không còn ranh giới tuyệt đối nữa, mà nhân dân trong CNXH là một cộng đồng xã hội bao gồm những người lao động với các phương thức, hình thức lao động khác nhau, phù hợp với năng lực và sở trường của mình. Khái niệm “nhân dân làm chủ” dùng trong Cương lĩnh 2011 là bước nhận thức mới.

Điểm thứ hai là điều chỉnh đặc trưng kinh tế theo một nhận thức đầy đủ hơn. Cương lĩnh 1991 nhấn rất mạnh “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”. Đến Cương lĩnh 2011 có hai điều chỉnh là, thêm chữ “tiến bộ” trước chữ “phù hợp” và bỏ vế sau “với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Đây là sự tiếp tục hoàn thiện nhận thức của Đảng ta về mối tương quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

•Khái niệm “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” được hiểu là quan hệ sản xuất không chỉ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như là Cương lĩnh 1991 nói, mà phù hợp với xu thế phát triển khách quan của xã hội loài người; phù hợp với bản chất của chế độ XHCN và phù hợp với đường lối, chủ trương phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Điểm thứ ba, trong Cương lĩnh 2011 vẫn giữ nguyên đặc trưng văn hóa vì đặc trưng xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một đặc trưng rất đầy đủ, không cần bổ sung thêm.

Đặc trưng thứ tư trong Cương lĩnh 2011 là đặc trưng về con người. Cương lĩnh 1991 viết quá cụ thể. Cương lĩnh 2011 diễn đạt khái quát hơn, nêu bật những tư tưởng cơ bản phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Nói như vậy là đủ, không cần phải diễn đạt quá chi tiết, quá cụ thể như trong Cương lĩnh 1991.

Đặc trưng thứ năm về dân tộc. Cương lĩnh 2011 mở rộng phạm vi các dân tộc, thay cụm từ “các dân tộc trong nước” bằng cụm từ “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam”. Khái niệm “cộng đồng Việt Nam” rộng hơn khái niệm “trong nước”, thêm 2 cụm từ “tôn trọng lẫn nhau” là nhằm khắc phục cho được sự kì thị dân tộc.

Đặc trưng thứ sáu về quốc tế. Cương lĩnh 2011 bỏ 2 từ “nhân dân” trong cụm từ “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các dân tộc trên thế giới” và thay bằng “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Phạm vi “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước” rộng hơn phạm vi “có quan hệ với nhân dân tất cả các nước”, thể hiện đúng đường lối, quan điểm của Đảng ta quan hệ với các đảng (đảng cầm quyền, đảng cánh tả và đảng chính trị), quan hệ với các nước, các nhà nước có chế độ chính trị khác nhau.

Cương lĩnh 2011 có bổ sung 2 đặc trưng mới

Đặc trưng thứ nhất là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa thành đặc trưng đầu tiên. Đây là đặc trưng tổng quát nhất, vừa phản ánh mục tiêu phấn đấu, vừa phản ánh bản chất chế độ XHCN mà Đảng và nhân dân ta xây dựng. Đặc trưng này đã được xác định từ Đại hội X, nhưng đến Cương lĩnh 2011 có sự điều chỉnh đưa “dân chủ” lên trên “công bằng”. Đại hội X nói là “xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đặc trưng thứ hai, có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đặc trưng này đã được xác định từ Đại hội X và được khẳng định trong Cương lĩnh 2011 thể hiện nhận thức của Đảng ta về vai trò rất quan trọng của Nhà nước trong đời sống xã hội.

•Như vậy đến Cương lĩnh 2011 đặc trưng mô hình CNXH đã được xây dựng thành một hệ thống gồm tám đặc trưng cơ bản. Tám đặc trưng ấy hình thành một chỉnh thể bổ sung lẫn nhau, hòa quyện với nhau để trở thành bản chất của CNXH.

•Mục tiêu tổng quát được diễn đạt như sau: “Cho đến khi kết thúc thời kỳ quá độ chúng ta xây dựng được (Trong Cương lĩnh 1991 là “xây dựng xong”) về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH”. “Xong” và “được” là 2 cấp độ khác nhau. Trong Cương lĩnh 1991 dùng khái niệm “xây dựng xong cơ sở kinh tế”, Cương lĩnh 2011 “xây dựng cơ bản nền tảng kinh tế”. “Nền tảng kinh tế” cao hơn, rộng hơn “cơ sở kinh tế”.

•Cương lĩnh 1991 viết: “Với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp tạo cơ sở nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh”. Trong Cương lĩnh 1991 không có 2 từ “hạnh phúc”. Đến Cương lĩnh 2011 bổ sung thêm “phồn vinh, hạnh phúc”. Cái quan trọng nó nằm ở từ “hạnh phúc”. Quốc hiệu của chúng ta là “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Toàn bộ các văn kiện của chúng ta đặt vấn đề con người phải trở thành trung tâm của chiến lược phát triển. Phồn vinh có thể rất nhiều nước phồn vinh, nhưng không phải quốc gia phồn vinh nào cũng có hạnh phúc. Hạnh phúc phản ánh bản chất của chế độ xã hội. Đấy là mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ.

•Về mục tiêu từ nay đến thế kỷ XXI tức là khoảng năm 2045 khi Nhà nước cách mạng của chúng ta tròn 100 năm thì chúng ta phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Đó là cái đích phải đến của quá trình CNH, HĐH;

•Những nội dung về đặc trưng, về mô hình, các định hướng lớn cũng là phác những nét khái quát về mục tiêu xây dựng một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Đây còn là vấn đề “treo” về mặt lý luận, cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hóa hơn, nó là mục tiêu thể hiện một tư duy nhất quán của chúng ta. Khi chúng ta nói từ nay đến năm 2015 xây dựng nền tảng để trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính là từng bước chuẩn bị để đến giữa thế kỷ XXI trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN.

 

•Trong Cương lĩnh 1991 xác định 7 phương hướng cơ bản.

• Cương lĩnh 2011, chúng ta sắp xếp lại trật tự, bổ sung thêm nội dung của từng phương hướng, tách vấn đề đối ngoại, quan hệ quốc tế thành một phương hướng riêng.

Phương hướng

•Phương hướng thứ nhất, bổ sung như sau: chúng ta không dùng khái niệm “công nghiệp hoá theo hướng hiện đại” như Cương lĩnh 1991 mà dùng khái niệm “đẩy mạnh CNH, HĐH” gắn với 2 vế sau mà Cương lĩnh 1991 chưa có: gắn với phát triển kinh tế tri thức, gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường.

•Phương hướng thứ 2 chúng ta nói gọn lại là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cương lĩnh 1991 viết dài: “phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước”.

•Phương hướng thứ 3, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Cương lĩnh 2011 bổ sung xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội- những nội dung rất mới phản ánh bước tiến trên con đường xây dựng CNXH ở nước ta..

•Phương hướng thứ 4, bảo vệ vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, đồng thời chăm lo trật tự, an toàn xã hội. Trong xã hội hiện đại, các yếu tố an ninh phi truyền thống, các loại tội phạm xuyên quốc gia đang trở thành vấn đề toàn cầu, cho nên khái niệm “bảo vệ Tổ quốc” bên cạnh quốc phòng, an ninh còn có vấn đề cực kỳ quan trọng là “trật tự, an toàn xã hội”.

•Phương hướng thứ 5 nói rõ hơn, đầy đủ hơn về đối ngoại: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là cái rất mới. Trước đây chỉ có một câu là “mở rộng quan hệ với nước ngoài”.

•Phương hướng thứ 6 là xây dựng một nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Trong Cương lĩnh 1991 vấn đề dân chủ XHCN mới được đề cập bước đầu, nhấn mạnh chủ yếu là vấn đề đoàn kết đến Cương lĩnh 2011 đưa vấn đề dân chủ XHCN lên trên gắn với vấn đề đại đoàn kết dân tộc và khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc.

•Phương hướng thứ 7 là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

•Phương hướng thứ 8 là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

•Việc thực hiện các phương hướng trên không tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau tạo thành chất lượng và hiệu quả của quá trình phát triển trong đó có các mối quan hệ lớn mà chúng ta cần nhận thức cho đúng và giải quyết cho hiệu quả. Nếu không quan tâm giải quyết đúng tám quan hệ này thì tám phương hướng nêu trên sẽ chệch hướng.

Tám mối quan hệ

•Tám mối quan hệ đó là: (1) Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; (2) Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (3) Quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN; (4) Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng từng bước quan hệ sản xuất XHCN; (5) Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; (6) Quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN; (7) Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; (8) Quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ.

•. Chúng ta cần chú ý 3 điểm:

•(1) Trong Cương lĩnh 1991 phần này được trình bày với tiêu đề những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại. Đến Cương lĩnh 2011 điều chỉnh hai từ “chính sách” thành “phát triển” và bổ sung thêm một cụm từ “văn hoá” thành “những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại”.

•(2) Trong Cương lĩnh 1991 nội dung văn hóa không được đưa thành tiêu đề và được trình bày trong vấn đề xã hội, cho nên vấn đề văn hóa không được trình bày một cách đầy đủ và hệ thống, trong khi vấn đề văn hóa càng ngày càng trở nên vô cùng quan trọng. Bây giờ người ta nói, thời kỳ cạnh tranh về kinh tế đã và đang qua và cạnh tranh quan trọng nhất để khẳng định sức mạnh và độ bền vững của quốc gia là cạnh tranh văn hóa. Có người nói thế kỷ XXI là thế kỷ văn hóa. Cương lĩnh 2011 nói đầy đủ hơn định hướng phát triển văn hóa.

•Trong Cương lĩnh 1991, nội dung về giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ được trình bày gắn với phát triển nguồn nhân lực, gắn với việc nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ, trình độ sản xuất trong phần viết về định hướng chính sách kinh tế do vậy không trình bày một cách đầy đủ, hệ thống được những vấn đề của giáo dục - đào tạo, của khoa học - công nghệ. Cho nên đến Cương lĩnh 2011 chuyển nội dung giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ về phần văn hóa - xã hội, trình bày đầy đủ hơn, cặn kẽ hơn

•Trong Cương lĩnh 1991, vấn đề an ninh được trình bày gắn với quốc phòng. Tiêu đề nói định hướng chính sách quốc phòng - an ninh là đúng vì quốc phòng và an ninh gắn với nhau. Nhưng nếu trình bày sự gắn ấy mà không thấy đặc thù của từng lĩnh vực thì không đầy đủ. Cương lĩnh 2011, vừa trình bày mối quan hệ khăng khít giữa quốc phòng và an ninh, vừa quan tâm thể hiện tính đặc thù của từng lĩnh vực. Đó là những điều chỉnh, đổi mới trong nhận thức, định hướng của Cương lĩnh 2011.

• (3) Trong Cương lĩnh 1991, những nội dung định hướng chính sách đối với những lĩnh vực chủ yếu được phác họa trên cơ sở thực tiễn của mấy chục năm xây dựng CNXH trong điều kiện chiến tranh và trong thực tiễn 5 năm đầu còn rất chập chững, mới mẻ của sự nghiệp đổi mới. Cho nên nội dung định hướng trình bày trong Cương lĩnh 1991 tất không tránh khỏi những hạn chế, chưa đầy đủ, chưa bao quát.

•Đến Cương lĩnh 2011 chúng ta có cả thực tiễn 25 năm đổi mới, thực tiễn 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991. Trên cơ sở tổng kết nghiêm túc thực tiễn ấy, có cơ sở để chúng ta xây dựng một cách chắc chắn hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn những định hướng về các lĩnh vực:

Về định hướng phát triển kinh tế, chúng ta tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, với nhiều thành phần kinh tế, với nhiều tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Cương lĩnh 2011 phân tích rõ các thành phần kinh tế có tư cách pháp nhân và tính chất của nó, vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế. Kinh tế Nhà nước lâu dài vẫn giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể càng ngày càng phát triển và kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể càng ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Có đồng chí nói kinh tế tập thể đang rất khó khăn, cùng với kinh tế Nhà nước nền tảng thế nào được?

•Chúng ta nhìn 30 năm nữa kinh tế tập thể không đơn giản như lâu nay chúng ta nghĩ. Nó là sự phát triển tự thân. Trình độ phát triển kinh tế lên, nhu cầu hợp tác trở thành nhu cầu khách quan cho nên thành phần kinh tế tập thể sẽ càng ngày càng phát triển theo quy luật phát triển khách quan của kinh tế, không tùy thuộc vào ý muốn chủ quan. Khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực; khẳng định chủ trương khuyến khích phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài và đặc biệt nhấn mạnh các tiềm năng và triển vọng của một loại hình tổ chức rất đặc biệt đó là các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển.

•Về thể chế kinh tế thị trường, về chế độ quản lý, về quan hệ phân phối được định hướng rất rõ. Trong quan hệ phân phối lần này, có quan điểm đáng quan tâm là ngoài điểm nhấn phân phối theo lao động, phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực, còn phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, xác định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc điều tiết phân phối.

•Trong phần định hướng về kinh tế có những định hướng quan trọng về cơ cấu. Cơ cấu ngành thế nào? Vùng thế nào? Phát triển theo phương châm nào? Nhấn mạnh phương châm phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ song song với phương châm chủ động hội nhập quốc tế.

Về định hướng phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, phần này khá phong phú và toàn diện, đề cập đến sáu nội dung định hướng: Định hướng về văn hóa thì kế thừa tư tưởng Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; kế thừa tư tưởng của Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về tiếp tục phát triển văn học - nghệ thuật trước yêu cầu mới và những quan điểm, chủ trương phát triển báo chí cách mạng đã thể hiện trong Nghị quyết Đại hội X, những quan điểm được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới được thể hiện đầy đủ trong định hướng này.

•Định hướng về phát triển con người. Trong phần này Cương lĩnh 1991 chưa có điều kiện trình bày nhiều, trong Cương lĩnh 2011 phần viết về con người rất đậm, viết về vị trí của con người- trung tâm chiến lược phát triển, vừa là chủ thể phát triển. Nói về nguyên tắc tôn trọng quyền con người gắn với quyền lợi của dân tộc, đất nước, quyền làm chủ của nhân dân.

•Chúng ta đặt vấn đề nhân quyền, quyền con người thành một vấn đề rất lớn, nhưng chúng ta kiên quyết phản bác quan niệm tuyệt đối hóa quyền con người, đặt quyền con người cao hơn chủ quyền quốc gia, đặt con người cao hơn xã hội, cao hơn cộng đồng, một mặt chúng ta coi trọng, nhấn mạnh, tôn trọng bảo vệ quyền con người, nhưng gắn quyền con người với quyền của dân tộc, quyền của quốc gia và quyền làm chủ của nhân dân. Đó là những định hướng hết sức căn bản. Chúng ta đưa ra chuẩn mực con người Việt Nam, chúng ta phấn đấu xây dựng con người trong thời kỳ mới theo các chuẩn mực: yêu nước; có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế trong sáng.

•Về định hướng phát triển giáo dục - đào tạo, Cương lĩnh nêu sứ mệnh, vị trí của giáo dục - đào tạo; nhấn mạnh phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục; phải nâng cao chất lượng giáo dục theo phương châm: chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế. Phải xây dựng một xã hội học tập để đảm bảo công dân có quyền học tập suốt đời.

•Định hướng phát triển khoa học - công nghệ, Cương lĩnh 2011 nhấn mạnh vị trí then chốt của khoa học - công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất, trong nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Không chỉ gắn phát triển khoa học - công nghệ với phục vụ CNH, HĐH mà gắn phát triển khoa học - công nghệ với phát triển văn hóa và nâng cao dân trí.

•Định hướng về phát triển môi trường trong Cương lĩnh 1991 được viết rất đơn giản. Chúng ta chưa thấm vấn đề môi trường. Hai mươi năm qua, chúng ta ngày càng thấm vấn đề môi trường, cho nên phần định hướng về môi trường trong Cương lĩnh 2011 viết khá đầy đủ, trong đó rất quan tâm những định hướng lớn: phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu thụ sạch; coi trọng nghiên cứu, dự báo đồng thời chủ động thực hiện các giải pháp để ngăn chặn và thích ứng với biến đổi khí hậu và thảm họa của tự nhiên.

•Định hướng về chính sách xã hội và phát triển xã hội, được thể hiện rất đầy đủ và có bước phát triển mới. Cương lĩnh 1991 chỉ nói gắn phát triển kinh tế với tiến bộ. Đến Cương lĩnh 2011 đã đổi thành một hệ quan điểm là kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển, từng chính sách.

•Bổ sung vấn đề hạn chế tội phạm và giảm thiểu tác hại của tệ nạn xã hội, bảo đảm quy mô hợp lý, cân bằng giới tính và chất lượng dân số. trong Cương Tiếp thu tinh thần của Nghị quyết Trung ương về xây dựng giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên.

 

•Định hướng đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện bình đẳng giới và hành động vì sự tiến bộ phụ nữ.

•Định hướng đoàn kết, hỗ trợ đồng bào định cư ở nước ngoài

•Định hướng về chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo.

•Có 4 vấn đề chúng ta cần quan tâm:

•(1) Hoàn thiện một bước khái niệm và định hướng xây dựng dân chủ XHCN. Trong Cương lĩnh 1991 viết đơn giản.

•Đến Cương lĩnh 2011 khẳng định dứt khoát: dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Một nhận thức rất cao về tầm quan trọng, vai trò của dân chủ XHCN, chăm lo quyền con người và quyền công dân; trình bày các phương thức làm chủ của nhân dân.

• (2) Hoàn thiện định hướng lớn về xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, trong đó nhấn mạnh bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta; nguyên tắc thiết kế và sử dụng quyền lực; phương thức vận hành của Nhà nước pháp quyền; quan hệ mật thiết với nhân dân;  định hướng đấu tranh chống sự tha hóa của Nhà nước.

• (3) Làm rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Có thể nói, Cương lĩnh 2011 đã trình bày lần đầu tiên một cách hệ thống, đầy đủ và sâu sắc chức năng, nhiệm vụ của mặt trận và đoàn thể. Có 5 chức năng, nhiệm vụ lớn:

• (i) đại diện và bảo vệ quyền lợi  chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của đoàn viên, hội viên;

• (ii) thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh;

•(iii) tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước;

• (iv) giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng; quyền và nghĩa vụ công dân;

• (v) tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Năm chức năng, nhiệm vụ được trình bày thành hệ thống quan điểm có tính chất định hướng toàn bộ hoạt động của Mặt trận

• (4) Bổ sung những nhận thức mới về Đảng và định hướng xây dựng Đảng. Trong Cương lĩnh 2011, bổ sung cách diễn đạt mới về Đảng.

Tóm laị

MỘT SỐ NHẬN THỨC RÚT RA TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XI: 4

Một là, Cương lĩnh 2011 là Cương lĩnh thể hiện tính kiên định và sáng tạo của Đảng

Hai là, Cương lĩnh 2011 đã thể hiện tinh thần kế thừa và phát triển

Ba là, Cương lĩnh 2011 thấm đậm tính tư tưởng và tràn đầy tinh thần hành động.

Bốn là, Cương lĩnh 2011 là Cương lĩnh mở:

•Sau Cương lĩnh 2011, thực tiễn sẽ tiếp tục vận động, chúng ta sẽ tiếp tục không ngừng tổng kết để từng bước hoàn thiện tiếp nội dung Cương lĩnh./. 

 

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

•Tiêu đề của Báo cáo chính trị cũng là chủ đề của Đại hội.

"Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".

Nền tảng của một nước cơ bản trở thành nước công nghiệp là thế nào, nhưng trong tất cả các trong nội dung của chỉ tiêu nhiệm kỳ khóa XI thì một số chỉ tiêu, mục tiêu nói lên phần nào đó. Ví dụ, đến năm 2015, GDP bình quân đầu người khoảng 2.000 USD, cơ cấu nông nghiệp 17 - 18%; công nghiệp và xây dựng 41 - 42%; dịch vụ 41 - 42%; sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ ứng dụng công nghệ cao đạt 35%; tỷ lệ lao động qua đào tạo 45 - 55%.

BỐ CỤC CỦA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

•Báo cáo chính trị gồm 12 phần. Phần thứ nhất đánh giá 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội X và nhìn lại 10 năm thực hiện chiến lược 2001 – 2010;  20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991. 11 phần còn lại là những nội dung, nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực của nhiệm kỳ khóa XI.

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

•1. Kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X, nhìn lại 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001 - 2010) và 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (1991 – 2011).

2. Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa. Phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 – 2015

- Dự báo tình hình trong nước, thế giới những năm sắp tới:

- Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa:

- Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa: nêu 8 mối quan hệ phải hết sức chú ý, xử lý đúng trong quá trình triển khai Nghị quyết Đại hội nói riêng cũng như việc quán triệt, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015

3. Cơ cấu lại kinh tế vùng, đô thị và nông thôn để thấy được tư tưởng của mô hình đổi mới tăng trưởng

4. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

5. Phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, kinh tế tri thức, bảo vệ môi trường. * Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo. * Phát triển và nâng cao hiệu quả khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tri thức. * Coi trọng bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai

6. Chăm lo phát triển văn hóa

7. Thực hiện có hiệu quả tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội và môi trường trong từng bước và từng chính sách phát triển:

8. Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa:

9. Triển khai đồng bộ toàn diện hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

10. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

11. Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

12. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI  10 NĂM  2011- 2020

1. Bối cảnh quốc tế trong thời kỳ thực hiện chiến lược

10 năm tăng trưởng không ổn định, biên độ giao động rộng hơn thời kỳ trước

Giá trị thương mại tăng, toàn cầu hoá nhanh và ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển

Giá cả tăng nhanh, nhất là dầu thô và lương thực

Nợ công gia tăng….

Tăng trưởng một số nước lớn 2006-2010

   2.Tình hình đất nước 2001-2010 đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi trình trạng kém phát triển có thu nhập trung bình.

Tình hình đất nước...

    Tiềm lực kinh tế được nâng cao, đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển

                             Hạn chế, yếu kém

 

Chất lượng tăng trưởng thấp, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chậm được cải thiện; các cân đối vĩ mô chưa thật sự vững chắc:

      -Tăng trưởng dựa chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, yếu tố vốn đóng góp vào tăng trưởng là 52,7%, lao động 19,1%; năng suất tổng hợp 28,2%.

       - Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia.

     - Các cân đối vĩ mô chưa vững chắc, dễ tổn thương

 

- Kéo dài quá lâu tình trạng tăng trưởng kinh tế dựa chủ yếu vào các yếu tố vốn và khai thác tài nguyên.

Đóng góp của yếu tố vốn chiếm tỷ lớn trên 52%, đóng góp của yếu tố tổng hợp TFP vào tăng trưởng kinh tế còn khiêm tốn chỉ khoảng 28%.

2) Kết cấu hạ tầng phát triển chậm, chất lượng thấp, thiếu đồng bộ đang cản trở sự phát triển;

 3) Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa theo kịp yêu cầu phát triển; sức sản xuất chưa được giải phóng triệt để;

4) Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa thực sự là quốc sách hàng đầu;

 5) Các lĩnh vực văn hoá, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp.

   Thành tựu xóa đói giảm nghèo chưa vững chắc, bất bình đẳng có xu hướng gia tăng giữa các vùng.Chênh lệch thu nhập giữa nhóm dân cư còn lớn (giai đoạn 2001 - 2002 là 8,14 lần; giai đoạn 2006 là 8,4 lần, năm 2008 8,9 lần). Tỷ lệ hộ nghèo giữa vùng Tây Bắc (vùng có tỷ lệ nghèo cao nhất) và vùng Đông Nam Bộ (có tỷ lệ nghèo thấp nhất) là 9,8 lần (31,5% so với 3,2%).

   Việc làm mới được tạo ra, nhưng chủ yếu là ở khu vực năng suất lao động thấp, thu nhập thấp

    Mất an toàn, an ninh, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng

phát triển; Nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là những tài

6) Bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, là thách thức lớn trong quá trình nguyên không có khả năng tái tạo đang bị khai thác quá mức với công nghệ lạc hậu gây lãng phí và đứng trước nguy cơ cạn kiệt; gây hủy hoại môi trường trong quá trình phát triển kinh tế

•Trình độ công nghiệp: GTCNCT/XK ở VN: 51%; TG là 70-75%

•Chỉ số kinh tế tri thức còn rất thấp, chưa đạt được điểm trung bình. So với các nước trong khu vực, chỉ số kinh tế tri thức của nước ta chưa bằng ½ chỉ số đạt được của nhóm nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs), thấp hơn khá nhiều so với Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc và Philipin. Theo phương pháp đánh giá do Viện nghiên cứu của Ngân Hàng thế giới đưa ra thì Chỉ số kinh tế tri thức của Việt Nam năm 2008 là 3,02, xếp thứ 102 trong số 133 quốc gia được phân tích.

      Việt Nam đang ở đâu? Năng suất lao động rất thấp so với các nước

Đơn vi: USD

- Hiệu quả đầu tư còn thấp.

So sánh ICOR của Việt Nam với các nước, vùng LT trong thời kỳ tăng trưởng nhanh

 

 

Viêt Nam đang ở đâu? Chi phi năng lượng cao, chỉ số cạnh tranh thấp

- Trình độ công nghiệp: GTCNCT/XK ở VN: 51%; TG là 70-75%

- Để tạo ra một 1 USD của GDP, Việt Nam đã phải tốn lượng điện năng bằng 4,65 lần Hồng Kông, gần 2,10 so lần Hàn Quốc, 3,12 lần Singapore, và khoảng 1,37 – 1,60 lần so Thái Lan, Malaysia.

- Chỉ số Năng lực cạnh tranh của Việt Nam liên tục giảm : 61/117 -2004/2005; 64/125- 2006/2007; 68/130 - 2007/2008; 70/131- 2008/2009 và 75/133 năm 2009/2010.

3. Quan điểm phát triển:

 1. Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược

2. Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

3. Mỏ rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển.

4. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.  

5. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

5. Chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 - 8%/năm. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.000 USD.

 Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30-35% lao động xã hội.

Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt khoảng 35%; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 2,5 - 3%/năm. Thực hành tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực.

Tỷ lệ đô thị hoá đạt trên 45%. Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.

b) Về văn hóa, xã hội: Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận ,công bằng, văn minh. HDI đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao động qua đào tạo chiếm trên 70%, lao động qua đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội; tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5 - 2%/năm; Xoá nhà ở đơn sơ, tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng/người.

Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại.

 

c) Về môi trường: Đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 45%. Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị xử lý chất thải; trên 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng. Chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng.

Hoàn thiện thể chế KT thị trường định hướng XHCN; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.

Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh.

 Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững.

Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh.

Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông

Phát triển hài hoà, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn mới

2. Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

         Tập trung cao các nguồn lực để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại.

     - Bằng mọi hình thức đầu tư (BOT, PPP…) khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia phát triển kết cấu hạ tầng.

      - Hình thành đồng bộ, hiện đại khung kết cấu hạ tầng theo trục giao thông Bắc-Nam, các trục hành lang Đông-Tây;

      -  Phát triển hệ thống cảng biển quốc gia, các cảng cửa ngõ quốc tế. Tập trung đầu tư các cảng hàng không quốc tế trong khu vực Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với quy mô và chất lượng phục vụ ngang tầm với các cảng hàng không quốc tế lớn trong khu vực.

     - Phát triển hạ tầng đô thị hiện đại, trước mắt ưu tiên triển khai tại Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

ĐIỀU LỆ ĐẢNG

•Những điểm bổ sung, sửa đổi của Điều lệ Đảng được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua ngày 19 tháng 01 năm 2011.

•So với Điều lệ Đảng (Đại hội X) thì cấu trúc, các chương, điều không thay đổi. Tức là có 12 chương, 48 điều và về cấu trúc cũng có phần Mở đầu.

• Có 19 điểm sửa đổi, bổ sung, trong đó, có 8 điểm sửa đổi, 9 điểm bổ sung và 2 điểm vừa sửa đổi, vừa bổ sung.

•Ở phần Mở đầu có sửa đổi một chỗ.

   Khổ thứ tư trong câu “giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân” sửa lại là “gắn bó mật thiết với nhân dân”.Từ gắn bó này thể hiện sự bền chặt trong mối quan hệ giữa đảng với nhân dân hơn so với từ giữ mối liên hệ.

CHƯƠNG I: ĐẢNG VIÊN

•Điều 1: Ở điểm 1, có bổ sung thêm một đoạn: nhân dân lao động và của dân tộc vào câu: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, thành câu: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Bổ sung như vậy là để nhất quán và phù hợp với phần mở đầu của Điều lệ Đảng.

•Điều 2: Quy định về bốn nhiệm vụ chủ yếu của đảng viên cũng có bổ sung. Ở cuối khoản 2 có bổ sung một câu. Ở Điều lệ cũ: đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện khác thì trong điều lệ mới bổ sung thêm chấp hành quy định của Ban chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

•Trong Điều 5, tại khoản 4, quy định về cách tính tuổi đảng của đảng viên. Theo đó, đảng viên đã được công nhận chính thức thì tuổi đảng của đảng viên tính từ ngày ghi trong quyết định kết nạp. Cách tính tuổi cũ của đảng viên được tính từ ngày ghi trong Quyết định công nhận là đảng viên chính thức. Về vấn đề này, khi Dự thảo của Bộ Chính trị, cũng như Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương đưa ra lấy ý kiến các nơi thì còn rất nhiều ý kiến. Bởi lẽ, tuổi đảng được xác định như trong quy định của Điều lệ mới thì có tính lại tuổi đảng cho số các đồng chí trước đây không? Hay chỉ tính đối với các đồng chí mới được kết nạp sau ngày 19/01/2011(ngày ban hành Điều lệ). Có ý kiến: nên áp dụng tính lại cho tất cả, nếu không các đồng chí đảng viên trước đây sẽ bị mất đi một năm tuổi đảng so với các đồng chí sau này…

•Điều 13: Quy định về cấp ủy khóa mới được điều hành ngay công việc sau khi được bầu.

•Việc bổ sung cấp ủy viên thiếu, việc thôi tham gia cấp ủy thì có sửa mới. Khoản 5 của Điều 13 sửa mới hoàn toàn. Trong khoản 5, Điều 13 (khóa X) quy định: Đối với tổ chức đảng mới thành lập, cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định cấp ủy lâm thời chậm nhất trong vòng một năm kể từ ngày có Quyết định chỉ định. Tổ chức đảng đó phải tiến hành đại hội. Nếu kéo dài thêm thời gian phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý.

•Đã sửa, đổi mới hoàn toàn. Cụ thể là:  Từ tổ chức cơ sở đảng đến đảng bộ trực thuộc Trung ương nếu được thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sát nhập trong nhiệm kỳ thì cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định cấp ủy chính thức; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung thêm nhiệm vụ cho phù hợp; nhiệm kỳ đầu tiên của các cấp ủy này không nhất thiết là năm năm để nhiệm kỳ đại hội phù hợp với nhiệm kỳ đại hội của tổ chức đảng cấp trên.

•Để có căn cứ cho việc chỉ đạo thí điểm một số chủ trương cũng như tổng kết, rút kinh nghiệm trước khi đề xuất bổ sung sửa đổi Điều lệ Đảng, chúng ta đã bổ sung mới vào Điều 16 của Điều lệ Đảng (ở khoản 2) như sau: Ban Chấp hành Trung ương căn cứ tình hình thực tế có thể chỉ đạo thí điểm một số chủ trương mới chưa được quy định trong Điều lệ Đảng.

•Điều 17 có bổ sung mới tại khoản 2, khoản 3 sau các từ kiểm tra, bổ sung thêm từ giám sát. Cũng ở khoản 2 sau câu: Bộ Chính trị lãnh đạo và kiểm tra, giám sát hay là Ban Bí thư lãnh đạo công việc hàng ngày của đảng, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng, kiểm tra, giám sát.

•Điều 21: Quy định về vị trí của tổ chức cơ sở đảng, điều kiện thành lập tổ chức cơ sở đảng. Điều này có sửa đổi ở khoản 2: Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện). Ở cơ quan doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên,  lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chức đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp.

•Điều 25 có bổ sung mới hai điểm ở khoản 1. Điểm bổ sung thêm như sau: sự lãnh đạo của đảng được tập trung thống nhất vào Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Đảng quyết định những vấn đề cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức,… Đồng thời, cũng để cụ thể hóa sự quản lý của Nhà nước đối với hai lực lượng này làm cơ sở để thể chế hóa về mặt pháp luật, dó đó, ở cuối khoản 1 có bổ sung thêm: Nhà nước thống nhất quản lý đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp quốc phòng,  an ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

•Điều 26, khoản 1, vừa sửa đổi, vừa bổ sung. Điểm mới của nội dung này là thay tên gọi của Đảng ủy Quân sự Trung ương gọi tắt là Quân ủy Trung ương. Tên Quân ủy Trung ương gắn với truyền thống của Quân đội, từ ngày đầu thành lập và cũng là tên mà Bác Hồ đã đặt cho Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đồng thời, ở cuối điểm 1, có bổ sung thêm đồng chí Tổng Bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương.

•Khoản 4 của Điều 27 của Điều lệ Đảng có bổ sung mới: một số đồng chí ngoài đảng bộ quân sự địa phương được cấp ủy địa phương chỉ định tham gia. Đồng chí bí thư cấp ủy địa phương trực tiếp làm bí thư đảng ủy quân sự cùng cấp.

•Điều 36: Về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm, có bổ sung mới ở khoản 2 và khoản 3.

•Khoản 2: Cấp ủy tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp vi phạm nhiệm vụ do cấp uỷ giao. Đoạn: quyết định khiển trách, cảnh cáo các ủy viên các cấp là được bổ sung.

•Bổ sung mới ở khoản 3 là: Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.

•Khoản này được trình bày như sau: Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị. Bộ chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; khiển trách cảnh cáo Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

•Điều lệ Đảng lần này bổ sung cụm từ Mặt trận Tổ quốc vào CHƯƠNG IX: ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC, MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

•Điều 42 và Điều 43 thì căn bản là giữ nguyên nhưng sửa đổi cụm từ: lãnh đạo công tác kiểm tra.

Ở khoản 3 của Điều 43 nói về nhiệm vụ của ban cán sự đảng có nêu: lãnh đạo công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng. Như vậy là đã thêm cụm từ: lãnh đạo công tác.

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Long

Nguồn tin: Văn Phòng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Khúc Ca Nguyễn Chí Thanh

Đồng Hồ

Phụ huynh

Đăng nhập thành viên